Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2021
Lượt xem: 1371

I. Kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và phát triển nông thôn

a. Trồng trọt

Sản xuất lương thực đảm bảo, diện tích, năng suất sản lượng đều đạt và vượt kế hoạch giao. Tổng sản lượng lương thực có hạt tháng 9 ước đạt 65.108 tấn, lũy kế 9 tháng đầu năm ước đạt 247.125 tấn, bằng 74,9% so KH và bằng 105,5% so CK, góp phần đảm bảo an ninh lương thực trong tỉnh và một phần cung cấp thị trường ngoài tỉnh.

- Cây lúa: Tổng diện tích gieo trồng lúa ruộng cả năm ước đạt 33.839,6 ha bằng 101,3% so KH và 101,3% so CK; năng suất ước đạt trên 54 tạ/ha (CK 53,9 tạ/ha); sản lượng tháng 9 ước đạt 65.108 tấn, lũy kế 9 tháng 133.625 tấn, đạt 74,9% so KH và 113,5% so CK.

- Cây Ngô: Tổng diện tích thực hiện ước đạt 36.634,3 ha, bằng 104,7% KH và 96% so CK; năng suất ước đạt 42,15 tạ/ha (CK 42,03 tạ/ha); sản lượng 9 tháng ước đạt 113.500 tấn, đạt 74,8% so KH và 97,4% so CK.

- Một số cây trồng chủ lực của tỉnh (dược liệu, chè, chuối, dứa, cây ăn quả ôn đới...) được tập trung chăm sóc và thu hoạch.

b. Chăn nuôi

Chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển ổn định. Tổng đàn gia súc chủ yếu (trâu, bò, lợn) là 565.500 con, đạt 87,7% KH năm và bằng 104,2% so với CK (trong tháng tăng 1.235 con); tổng đàn gia cầm 5.500 nghìn con, đạt 120,9% KH năm và bằng 113,9 % so với CK (trong tháng tăng 220 nghìn con); sản lượng thịt hơi xuất chuồng 48.700 tấn, đạt 79,2% KH năm và bằng 106,6% so CK (trong tháng tăng 6.930 tấn). Diện tích nuôi trồng thủy sản ao, hồ nhỏ 2.100 ha, đạt 96,1% KH năm và bằng 99,5% so CK (trong tháng tăng 100 ha); sản lượng thủy sản các loại đạt 7.125 tấn, bằng 70,9% so KH và 86,3% so CK (trong tháng tăng 995 tấn); sản xuất giống thuỷ sản dạt 22 triệu con, đáp ứng khoảng 70% nhu cầu sản xuất của tỉnh.

Công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm, vật nuôi được chú trọng. 9 tháng đầu năm, bệnh dịch tả lợn Châu Phi, viêm da nổi cục xảy ra trên địa bàn tỉnh, ngành nông nghiệp đã phối hợp với các địa phương thực hiện nghiêm các biện pháp để kiểm soát, ngăn chặn dịch bệnh bùng phát, đến nay về cơ bản đã khống chế được dịch bệnh.

c. Lâm nghiệp

Kinh tế lâm nghiệp có sự chuyển biến tích cực, thu nhập từ rừng được tăng lên; xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và thực hiện thu hồi rừng chuyển mục đích sử dụng rừng theo quy định. Chuẩn bị đầy đủ giống cho sản xuất trồng rừng năm 2021 đảm bảo chất lượng. Tháng 9 trồng được 1.186,8 ha rừng, lũy kế 7.091 ha đạt 75% so với KH và bằng 151,09% so CK; bảo vệ rừng 276.702 ha đạt 100%; khoanh nuôi tái sinh 3.700 ha, đạt 74% so KH. Trong đó (KNTS mới 1.150, KNTS chuyển tiếp 2.550); trồng cây xanh phân tán: Lũy kế 1.396.857 cây đạt 69% so với Kế hoạch giao.

Tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng. Từ đầu năm đến nay xảy ra 01 vụ cháy rừng, diện tích thiệt hại 0,289 ha, trong đó 0,0271 ha rừng trồng sản xuất, 0,2622 ha rừng tự nhiên chưa có trữ lượng.

Về công tác kiểm lâm: Trong tháng vi phạm 15 vụ, lũy kế từ đầu năm 199 vụ vi phạm (tăng 68 vụ so với cùng kỳ năm trước); lâm sản tịch thu: 1,551 m3 gỗ xẻ các loại, lũy kế 111,933 m3 gỗ các loại. Tiền xử lý vi phạm hành chính: 118,093 triệu đồng, lũy kế 1.826,943 triệu đồng.

d. Phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới

Trong 9 tháng đầu năm đã công nhận 04 xã hoàn thành nông thôn mới, lũy kế đến nay toàn tỉnh có 61/127 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; 02 xã được công nhận xã nông thôn mới nâng cao; 01 đơn vị cấp huyện được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (Thành phố Lào Cai); huyện Bảo Thắng đã hoàn tất hồ sơ trình Trung ương thẩm định, công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Toàn tỉnh có 141 thôn kiểu mẫu, 126 thôn nông thôn mới; tiêu chí bình quân/xã đạt 15,49 tiêu chí/xã (theo đánh giá của các huyện, thị xã, thành phố). Thu nhập ước đạt 27 triệu đồng/người/năm. Ước tính tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn đến nay còn 8,0%.

Toàn tỉnh đã thi công được 258,95 km (trong tháng thực hiện 34,69 km); vận động nhân dân xây dựng được 3.055 nhà tiêu hợp vệ sinh, 1.929 chuồng trại gia súc hợp vệ sinh, 43 mô hình Nhà sạch vườn đẹp”. Ngoài ra, các huyện, thị xã, thành phố tổ chức làm được 376,35 km đường hoa nông thôn, 417,16 km đường điện thắp sáng đường quê; huy động nhân dân tham gia tự nguyện đóng góp xây dựng nông thôn mới được: 4.877,2 triệu đồng tiền mặt, 92.932 ngày công lao động, 74.413 m2 đất và nhiều hiện vật khác (quy ra tiền đạt 15.145,4 triệu đồng).

e. Phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn

Trong 9 tháng đầu năm thời tiết trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp, xen kẽ giữa những ngày nắng nóng là các đợt mưa dông, lốc, sét xảy ra rải rác ở các nơi trên địa bàn tỉnh gây thiệt hại về nhà ở, hoa màu của nhân dân. Lũy kế thiệt hại từ đầu năm đến nay trên 73 tỷ đồng (giảm 119 tỷ đồng so cùng kỳ năm 2020). UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các huyện, thành phố triển khai các biện pháp phòng, tránh, ứng phó với hạn hán, mưa lớn, dông, lốc, sét, sạt lở xảy ra trên địa bàn tỉnh.

2. Sản xuất công nghiệp, xây dựng cơ bản

a. Sản xuất công nghiệp

Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản không bị tác động nhiều của dịch bệnh, giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng đều ở cả 3 lĩnh vực là khai thác, chế biến chế tạo và điện nước.

Về sản xuất điện, phân phối điện, từ đầu năm đến nay đã có 6 nhà máy thủy điện hoàn thành phát điện nâng tổng số toàn tỉnh lên 67 nhà máy với tổng công suất lắp máy 1.080,35MW. Tính đến thời điểm báo cáo (30/9/2021) đã triển khai hoàn thành cấp điện cho 64/87 thôn. Còn 23 thôn (huyện Bắc Hà: 09 thôn; huyện Bát Xát: 10 thôn; thị xã Sa Pa: 04 thôn) đang được tiếp tục triển khai đầu tư, trong đó: 15 thôn dự kiến đóng điện trong tháng 10/2021, 08 thôn dự kiến đóng điện trong tháng 11/2021.

Giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm 2021 ước đạt 31.076,5 tỷ đồng, bằng 76,92% so với kế hoạch, bằng 71,94% so với kế hoạch giao thêm và tăng 13,59% so cùng kì năm 2020. Ước giá trị sản xuất công nghiệp năm 2021 sẽ đạt 42.000 tỷ đồng, bằng 104% so với kế hoạch, bằng 97,2% so với KH giao thêm và tăng 13,4% so CK năm 2020.

Sản phẩm tiểu thủ công nghiệp của các địa phương trong 9 tháng đầu năm 2021 ước đạt 2.699 tỷ đồng (giá so sánh 2010) đạt 90% KH. Ước tính cả năm giá trị sản xuất TTCN đạt 3.000 tỷ đồng, bằng 100% so với kế hoạch, bằng 91% so với KH giao thêm.

b. Xây dựng cơ bản

Công tác quy hoạch xây dựng được đẩy mạnh về tiến độ và nâng cao chất lượng, gắn với thực hiện quy hoạch ngành, quy hoạch tỉnh tạo nền tảng cho công tác kêu gọi đầu tư, phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của tỉnh trong thời gian qua và giai đoạn sau này. Kết quả 9 tháng đầu năm 2021, đã thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt 55 nhiệm vụ quy hoạch, 27 đồ án quy hoạch, 43 đồ án điều chỉnh và điều chỉnh cục bộ quy hoạch.

Từ đầu năm 2021, nhiều khu đô thị, khu nhà ở thương mại, khu dân cư được khởi công xây dựng, tạo ra quỹ đất ở lớn và tạo ra nguồn thu lớn cho ngân sách tỉnh trong thời gian tới. Hiện trên địa bàn tỉnh đang triển khai thực hiện 62 dự án với tổng mức đầu tư là 51.273 tỷ đồng, trên diện tích 1.250ha đất và tổng số tiền sử dụng đất nhà đầu tư phải nộp NSNN ban đầu là 2.977 tỷ đồng. Tuy nhiên, tiến độ triển khai một số dự án còn chậm, cần tiếp tục đôn đốc thường xuyên và tập trung các giải pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, nhất là các vướng mắc về mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ thực hiện.

Kế hoạch đầu tư công năm 2021 (số vốn tỉnh giao theo Nghị quyết số 34/NQ-HĐND của HĐND tỉnh): Tổng vốn giao: 4.962 tỷ đồng, giá trị giải ngân đạt 2.649 tỷ đồng, bằng 53%KH, bao gồm: Kế hoạch vốn kéo dài giải ngân 208 tỷ đồng/262 tỷ đồng bắng 73% KH; Kế hoạch năm 2021 giải ngân 2.441 tỷ đồng/ 4.699 tỷ đồng bằng 52%KH. Nếu tính Kế hoạch vốn năm 2021 theo Quyết định giao của Thủ tướng Chính phủ, tỷ lệ ngân đạt 2.132 tỷ đồng/3.338 tỷ đồng, bằng 64%KH (đạt so với Nghị Quyết số 63/NQ-CP ngày 29/6/2021 của Chính phủ). Đã hoàn thành một số hạng mục, dự án chào mừng 30 năm tái lập tỉnh như hợp long Cầu Móng Sến - cầu cạn có trụ cao nhất Việt Nam, thông xe kỹ thuật Dự án đường kết nối Thành phố Lào Cai - Văn Yên (Yên Bái), nút giao cao tốc Hà Nội - Lào Cai tại Phố Lu...

3. Thương mại, dịch vụ

a. Hoạt động thương mại

Trong 9 tháng đầu năm 2021, hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh có nhiều biến động. Những tháng đầu năm hoạt động kinh doanh thương mại tương đối sôi động, sức mua tăng so với cùng kỳ. Tuy nhiên kể từ khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát trên phạm vi cả nước, hoạt động kinh doanh trầm lắng, sức mua các mặt hàng thiết yếu giảm mạnh, các dịch vụ du lịch như lữ hành, lưu trú, ăn uống cũng giảm do lượng khách du lịch hạn chế.

Tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 9 ước đạt 2.257,3 tỷ đồng, tăng 7% so với tháng trước (2.109,4 tỷ đồng), bằng 101,2% so với cùng kỳ năm trước (2.231,5 tỷ đồng); lũy kế 09 tháng đầu năm đạt 19.788,1 tỷ đồng đạt 68,7% so với kế hoạch (28.800 tỷ đồng), tăng 6,37% so với cùng kỳ năm trước (18.603,1 tỷ đồng).

Xuất nhập khẩu:

Hoạt động xuất nhập khẩu gặp khó khăn do triển khai các biện pháp chống dịch tại cửa khẩu biên giới. Hoạt động thông quan hàng hóa tại các cửa khẩu phụ trên địa bàn tỉnh hạn chế, chỉ phát sinh hoạt động xuất kinh doanh và nhập khẩu thiết bị nhưng giá trị không đáng kể. Bên cạnh đó, phía Trung Quốc vẫn tiếp tục áp dụng việc hạn chế nhập khẩu các mặt hàng nông sản từ Việt Nam để thực hiện công tác phòng chống lây lan dịch bệnh Covid-19 gây ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất nhập khẩu qua cửa khẩu quốc tế đường bộ. Mặc dù, gần đây mặt hàng chuối của Lào Cai đã được phép thông quan trở lại, nhưng số lượng ít và giá tương đối thấp, gây rất nhiều khó khăn cho thương nhân.

Tổng giá trị xuất nhập khẩu, mua bán, trao đổi hàng hoá qua các cửa khẩu trong tháng 9 ước đạt 230,94 triệu USD giảm 17,34% so với tháng 8/2021, bằng 98,96% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng đầu năm ước đạt 2.659,07 triệu USD tăng 23,74% so với cùng kỳ 2020; đạt 57,81% KH. Trong đó:

- Giá trị xuất khẩu đạt 45,10 triệu USD, bằng 101% so với tháng 8/2021, giảm 61,51% so với cùng kỳ năm 2020, Lũy kế 9 tháng đầu năm ước đạt 1.045,71 triệu USD (tăng 18,71% so với cùng kỳ 2020), đạt 61,51% KH năm.

- Giá trị nhập khẩu đạt 59,30 triệu USD tăng 3,49% so với tháng 8/2021, tăng 61,40% so với cùng kỳ năm 2020, Lũy kế 9 tháng đầu năm ước đạt 503,21 triệu USD (tăng 14,23% so với cùng kỳ 2020), đạt 62,9% KH năm.

- Các loại hình khác ước đạt 126,54 triệu USD giảm 28,67% so với tháng 8/2021, tăng 59,23% so với cùng kỳ năm 2020. Lũy kế 9 tháng đầu năm ước đạt 1.110,15 triệu USD (tăng 34,15% so với cùng kỳ 2020), đạt 52,86% KH năm.

Công tác quản lý thị trường:

Tháng 9, thị trường hàng hóa ổn định, nguồn cung phong phú, không có biến động bất thường về cung cầu, giá cả; hàng hóa lưu thông thông suốt, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của nhân dân. Tình hình buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa không có diễn biến phức tạp, không phát sinh điểm nóng và các vụ việc nổi cộm; không có tình trạng lợi dụng tình hình dịch bệnh để mua gom hàng hóa, tăng giá bất hợp lý thu lời bất chính.

Lực lượng Quản lý thị trường kiểm tra: 92 lượt vụ (bằng 92% so với tháng 8/2021). Số vụ vi phạm: 32 vụ (86,5% so với tháng 8/2021); Tổng giá trị xử lý: 264 triệu đồng (bằng 48,5% so với tháng 8/2021). Tổng số thu nộp ngân sách: 100 triệu đồng (bằng 47,6% so với tháng 8/2021). Trị giá hàng hóa vi phạm: 163 đồng (bằng 49% so với tháng 8/2021).

Lũy kế 9 tháng: Số vụ kiểm tra 874 lượt vụ (bằng 96,8% so với CK năm 2020); số vụ vi phạm 333 vụ (bằng 91,7% so với Ck 2020); tổng giá trị xử lý 4.757 triệu đồng (tăng 30,5% so với CK 2020); tổng số thu nộp ngân sách nhà nước 2.185 triệu đồng (tăng 32,1% so với CK 2020), trong đó xử phạt vi phạm hành chính 1.615. triệu đồng (tăng 37,1% so với CK 2020), trị giá hàng bán thanh lý 569 triệu đồng (tăng 19,7% so với CK 2020); trị giá hàng hóa vi phạm 3.141 triệu đồng (tăng 27,4% so với CK 2020).

b. Du lịch

Ngành du lịch là ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19. Bên cạnh đó, các hoạt động quản lý du lịch tiếp tục được triển khai. UBND tỉnh chỉ đạo, quan tâm hỗ trợ cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, người lao động trong lĩnh vực du lịch gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Về hỗ trợ các cơ sở lưu trú hoàn thiện các thủ tục để hưởng ưu đãi về giá điện: Tháng 9/2021 đã hỗ trợ cho 09 cơ sở lưu trú du lịch tiến hành các thủ tục cần thiết để được thẩm định, công nhận là cơ sở lưu trú du lịch hoặc kiểm tra điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ nhằm hưởng ưu đãi chuyển đổi giá điện từ giá điện kinh doanh sang giá điện sản xuất, lũy kế từ 15/6 - 15/9/2021 hỗ trợ tổng số 176 cơ sở lưu trú du lịch.

Tháng 9/2021 lượng khách du lịch tại Lào Cai ước đạt 11.000 lượt khách, tăng 132,6% so với tháng 8/2021. Tổng thu du lịch ước đạt 45,5 tỷ đồng, tăng 119,8% so với tháng 8/2021. Lũy kế 09 tháng năm 2021 lượng khách đến Lào Cai ước đạt 1.218.500 lượt khách, giảm 5,9% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 24,4% KH. Tổng thu từ khách du lịch 09 tháng năm 2021 ước đạt 3.863 tỷ đồng, giảm 19% so với cùng kỳ 2020, đạt 24,1% KH.

c. Hoạt động vận tải

Diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 tác động trực tiếp tới hoạt động vận tải 9 tháng năm 2021, tuy nhiên từ ngày 10/9 UBND tỉnh cho phép nới lỏng một số hoạt động dịch vụ trong đó có dịch vị vận tải vì vậy các đơn vị hoạt động vận tải hàng đã tranh thủ hoạt động trở lại, đặc biệt là vận tải hàng hóa nhận được nhiều hợp đồng vận chuyển như: Vận chuyển quặng, vật liệu xây dựng, xuất nhập khẩu một số mặt hàng nông sản… vì vậy hoạt động vận tải tăng khá so kỳ năm trước.

Vận tải hành khách (HK) tháng 9 ước tính đạt 1.146 nghìn HK, giảm 30,44% so với cùng kỳ năm trước và 65.613 nghìn HK, giảm 16,93%, doanh thu đạt 63,45 tỷ đồng, giảm 24,06% so với cùng kỳ 2020. Tính chung 9 tháng đầu năm 2021, vận tải hành khách đạt 11.923 nghìn HK, giảm 14,60% so với cùng kỳ năm trước và 602.328 nghìn HK, giảm 9,58%. Doanh thu đạt 643,70 tỷ đồng, giảm 13,53%, riêng doanh thu cáp treo đạt 135,89 tỷ đồng, giảm 21,98% với 242,24 nghìn HK, giảm 4,94% (-12,58 nghìn HK); nguyên nhân do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 các chương trình Lễ hội tạm ngừng, đặc biệt từ tháng 5 đến nay hoạt động cáp treo tạm ngừng, không hoạt động để phòng dịch.

Vận tải hàng hóa tháng 9 ước tính đạt 814 nghìn tấn, tăng 8,27% so với cùng kỳ năm trước và 45.230 nghìn tấn, tăng 6,40%, doanh thu đạt 194,31 tỷ đồng, tăng 3,10%. Tính chung 9 tháng năm 2021, vận tải hàng hóa đạt 8.362 nghìn tấn, tăng 18,74% và 469.512 nghìn tấn, tăng 31,48%; doanh thu đạt 1.881,04 tỷ đồng, tăng 12,41%.

4. Tài chính, tín dụng, giá cả thị trường

a. Thu, chi ngân sách

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn trong tháng 9 đạt 905,955 tỷ đồng, lũy kế ước đạt 6.420 tỷ đồng, bằng 88,3% dự toán Trung ương giao và bằng 133,8% so CK. Tổng thu ngân sách địa phương trong tháng 9 ước đạt 912,686 tỷ đồng, luỹ kế đạt 13.467.000 tỷ đồng, bằng 115,2% dự toán Trung ương giao và bằng 109,2% so với cùng kỳ năm trước; Tổng chi ngân sách địa phương trong tháng 9 ước đạt 1.591,171 tỷ đồng, lũy kế ước đạt 9.650 tỷ đồng, bằng 82,2% dự toán Trung ương giao và bằng 94,2% cùng kỳ năm trước.

b. Hoạt động tín dụng

Tổng nguồn vốn đến 30/9/2021 đạt 57.500 tỷ đồng, tăng 3.028 tỷ đồng (+5,6%) so với 31/12/2021, cao hơn so cùng kỳ năm 2020 (cùng kỳ 2020 tăng 5,2%) và đạt 54,8% KH. Ước đến 31/12/2021, tổng nguồn vốn đạt 59.000 tỷ đồng, đạt 81,9% KH. Tổng dư nợ đến 30/9/2021 ước đạt 51.800 tỷ đồng, tăng 1.621 tỷ đồng (+3,2%) so với 31/12/2020, cao hơn cùng kỳ 2020 (cùng kỳ 2020 dư nợ tăng 3,09%), đạt 33,6% KH. Ước đến 31/12/2021, tổng dư nợ đạt 54.000 tỷ đồng, đạt 79% kế hoạch 2021. Các Ngân hàng chủ động tăng cường công tác kiểm soát chất lượng tín dụng, đến 10/9/2021, tỷ lệ nợ xấu là 1,24%. Ước đến 30/9/2021, tỷ lệ nợ xấu là 1,3%.

Trước ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch Covid-19 đối với nền kinh tế, để phù hợp với diễn biến kinh tế và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, các ngân hàng, tổ chức tín dụng đã bám sát chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và thực hiện nghiêm các quy định về lãi suất huy động và cho vay theo quy định. Hỗ trợ theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN và các thông tư sửa đổi Thông tư 01, cụ thể: Tính đến 31/8/2021, dư nợ bị ảnh hưởng do dịch Covid-19 là gần 21.000 tỷ đồng. Trong đó, (i) cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho 484 khách hàng với dư nợ 6.819 tỷ đồng; (ii) miễn, giảm lãi cho 163 khách hàng với dư nợ 697 tỷ đồng, số tiền lãi đã miễn, giảm cho khách hàng là 2,141 tỷ đồng; (iii) doanh số cho vay mới với lãi suất thấp hơn so với trước dịch là 14.332 tỷ đồng đối với 1.789 khách hàng; Hỗ trợ cho vay theo NQ 42/NQ-CP: NHCSXH đã cho vay trả lương ngừng việc cho người lao động đối với 02 cơ sở kinh doanh, số tiền vay là 46,6 triệu đồng (trả lương cho 09 lao động); Hỗ trợ cho vay theo NQ68/NQ-CP: Đến 15/9/2021, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Lào Cai đã cho vay vốn để trả lương ngừng việc và vay vốn trả lương phục hồi sản suất với tổng số lượt người lao động được chi trả là 25 người với tổng số tiền hỗ trợ là 89,5 triệu đồng.

Thực hiện cam kết đồng thuận giảm lãi suất cho vay theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Hiệp hội ngân hàng trên địa bàn: đến 31/8/2021, Dư nợ được giảm lãi suất (cả khoản vay giải ngân trước 15/7/2021 và khoản cho vay mới phát sinh từ ngày 15/7/2021) là 16.250 tỷ đồng, số tiền lãi đã được giảm là 6,845 tỷ đồng, số khách hàng được giảm lãi suất là 44.780 khách hàng.

c. Giá cả, chỉ số giá tiêu dùng: dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, đã ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm, chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 năm 2021 so với tháng trước giảm 0,15%; so với cùng kỳ năm trước giảm 0,68%; bình quân quý III giảm 0,64%; bình quân 9 tháng giảm 1,30%.

5. Thu hút đầu tư, phát triển các thành phần kinh tế:

Về thu hút FDI: Tỉnh Lào Cai hiện có 23 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 571,52 triệu USD.

Về dự án đầu tư trong nước: trong tháng 9 tiến hành cấp mới 02 dự án với tổng mức đầu tư là 552,9 tỷ đồng (trong đó dự án Khu đô thị mới phía Đông chợ trung tâm huyện Mường Khương của nhà đầu tư Công ty CP Bất động sản Mỹ + Công ty CP May - Diêm Sài Gòn tổng mức đầu tư 546,05 tỷ), lũy kế 9 tháng đầu năm 2021, cấp giấy  cho 22 dự án đầu tư trong nước với tổng mức đầu tư 4538,44 tỷ đồng.

Về cấp giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp: trong tháng cấp mới cho 40 doanh nghiệp với tổng số vốn là 307,458 tỷ đồng; Lũy kế 9 tháng đầu năm thành lập mới 541 doanh nghiệp (bao gồm 419 doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc 122). Lũy kế số doanh nghiệp còn hoạt động trên hệ thống đăng ký doanh nghiệp quốc gia là 5.801 doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 18,433.938 tỷ đồng. Lũy kế số đơn vị trực thuộc còn hoạt động trên hệ thống đăng ký doanh nghiệp quốc gia là 2.200 đơn vị.

6. Văn hoá, xã hội

a. Hoạt động giáo dục

Chỉ đạo thực hiện quy hoạch mạng lưới trường, lớp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó tập trung: giảm, xóa, gộp điểm trường, giảm lớp, giảm học sinh ở điểm trường lẻ, tăng số học sinh ở trường chính, tăng số học sinh/lớp để tập trung đầu tư; gắn sắp xếp trường, lớp với thực hiện tinh, giản biên chế, đáp ứng tốt nhu cầu học học tập của nhân dân, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Công tác phổ cập giáo dục tiếp tục duy trì bền vững ở 100% xã, 9/9 huyện, thị xã, thành phố; tỷ lệ thanh thiếu niên từ 15 - 18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS đạt 90,1%; tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 - 60 từ 90,3 lên 95,2%. Tích cực triển khai xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia gắn với xây dựng Nông thôn mới, đến nay có 390 trường, đạt 64,78% (tăng 14 trường, tăng 2,28% so với năm 2020).

Chú trọng giáo dục toàn diện, rèn kỹ năng sống cho học sinh, gắn giáo dục hội nhập với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; bồi dưỡng, phát hiện học sinh giỏi, học sinh năng khiếu và nghiên cứu khoa học. Kết quả: Thi THPT Quốc gia hằng năm đạt kết quả cao và ổn định, tỷ lệ tốt nghiệp năm 2021 đạt 99,26%, điểm trung bình thi toàn tỉnh đạt 6,455 điểm, tăng 0,145 điểm so với năm 2021, xếp thứ 24/63 tỉnh, thành phố, xếp thứ nhất trong các tỉnh miền núi phía Bắc. Thi học sinh giỏi quốc gia năm 2021, Lào Cai có 48 học sinh đạt giải (Nhì: 09; Ba: 17; Khuyến khích: 22); có 01 học sinh được lọt vào vòng dự tuyển tham gia dự thi Quốc tế. Thi nghiên cứu khoa học (NCKH) kỹ thuật cấp quốc gia, tiếp tục khẳng định là tỉnh trong top đầu, năm 2021 có 02/02 dự án tham gia đều đoạt giải (01 giải Nhất và 01 giải Nhì), là năm thứ 7 liên tiếp tỉnh Lào Cai giành được giải cao, trong đó 01 giải nhất được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn thi NCKH Quốc tế và đạt giải 3 chuyên đề do Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ trao, 01 giấy chứng nhận do Hiệp hội thống kê Hoa Kỳ trao (đoàn Việt Nam đạt 02 giải Ba: 01 giải chuyên đề thuộc dự án của học sinh Lào Cai, 01 giải cuộc thi thuộc dự án học sinh Bắc Ninh).

Công tác ứng dụng CNTT trong dạy, học và quản lý giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh, công tác xã hội hoá giáo dục, hội nhập, hợp tác quốc tế được tăng cường.

b. Y tế, dân số, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng

- Công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19: Tình hình dịch bệnh Covid-19 tiếp tục có những diễn biến phức tạp trên cả nước, đặc biệt là tại các tỉnh khu vực phía Nam. Tại tỉnh Lào Cai, tính từ đợt dịch thứ 4 (ngày 27/4/2021) đến ngày 30/9/2021 đã ghi nhận 98 ca dương tính với Covid-19 là các trường hợp tại khu cách ly điều trị tập trung, hiện có 02 ca đang điều trị tại Bệnh viện Dã chiến số I. Nhằm tiếp tục đối phó với những diễn biến mới của dịch bệnh, tỉnh tiếp tục triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19 quyết liệt, hiệu quả như: Xây dựng Phương án số 322/PA-BCĐ ngày 12/8/2021 về đáp ứng với các cấp độ dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Lào Cai cho phù hợp với tình hình mới; ban hành các văn bản chỉ đạo việc thực hiện quyết liệt các biện pháp cấp bách trong công tác phòng chống Covid-19; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ người ra, vào tỉnh.

Tính đến hết ngày 30/9, Lào Cai đã triển khai tiêm được 188.760 mũi tiêm, trong đó: Số người tiêm mũi 1: 119.630 người (chiếm 23,4% dân số trên 18 tuổi); Số người tiêm đủ 2 mũi: 69.130 người (chiếm 13,5% dân số trên 18 tuổi). Với mục tiêu không bỏ phí bất kỳ một liều vắc xin nào và thực hiện nguyên tắc “Tiêm đến đâu an toàn đến đó”, Lào Cai đang cố gắng thực hiện mọi biện pháp để nâng cao tỷ lệ tiêm chủng, hoàn thành các mục tiêu đã đề ra.

Thực hiện tốt công tác khai báo y tế, truy vết, cách ly các trường hợp nghi nhiễm, không bỏ sót đối tượng, từ ngày 29/4/2021 đến nay (đợt dịch 4): Truy vết: F1: 1.025 (F1 ca trong tỉnh: 342, F1 từ vùng dịch ngoài tỉnh: 683); F2: 2.559; người từ vùng dịch trong nước về địa phương: 4.906.

Công tác cách ly: Số đang cách ly: 215 trường hợp (Bệnh viện: 17, Trung đoàn 254: 60, huyện, thị xã, thành phố: 110, tiểu đoàn huấn luyện cơ động: 28), luỹ kế số cách ly từ 27/4/2021: 6.335. Thực hiện tốt công tác quản lý, cách ly đối với các trường hợp từ vùng dịch trong nước trở về địa phương: Về từ vùng dịch Bình Dương lũy kế: 280 (hiện đang cách ly: 03); về từ vùng dịch Thành phố Hồ Chí Minh lũy kế: 579 (hiện đang cách ly 0); về từ vùng dịch Hà Nội lũy kế: 2.212 (hiện đang cách ly 748), về từ các vùng dịch khác 1.835 (hiện đang cách ly: 06).

Tổng số người qua chốt kiểm dịch: Số người qua chốt: 874.223 người.

Xét nghiệm: 67.472 mẫu trong đó: Dương tính: 290 mẫu (282 mẫu/98 ca F0; 08 mẫu/04 ca tái dương tính), còn lại là âm tính.

- Các chương trình mục tiêu y tế - dân số được thực hiện tốt, tính đến tháng 9 năm 2021 chỉ tiêu số giường bệnh trên vạn dân: 42,2 giường, đạt 97,23% so với KH; số bác sỹ trên vạn dân là 12,4, đạt 95,3% so với KH. Đảm bảo cung ứng đủ thuốc phục vụ cho nhân dân; giá thuốc trên địa bàn tỉnh ổn định.

- Về công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Tăng cường công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Duy trì các họat động tuyên truyền về bảo đảm an toàn thực phẩm. Kiểm tra 5.574 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, có 5.176 cơ sở đạt tiêu chuẩn vệ sinh (chiếm 92,9%). Test nhanh: 1.393 mẫu (đạt 99,6%); Kiểm nghiệm thực phẩm 93 mẫu, số mẫu đạt 88 (94,6%). Tiếp nhận 185 hồ sơ tự công bố sản phẩm, cấp 135 giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Trong 09 tháng xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm cấp tính làm 74 người mắc, 01 trường hợp tử vong.

c. Hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao

Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 với biến thể mới diễn biến phức tạp, hầu hết các hoạt động văn hóa, thể thao phải điều chỉnh, tạm dừng để tránh sự lây lan của dịch bệnh. Công tác quản lý về danh thắng, di tích, bảo tồn, phát triển văn hoá phi vật thể tiếp tục được tổ chức thực hiện, đảm bảo tiến độ và thời gian hoàn thiện. Các hoạt động tuyên truyền phục vụ cơ sở phải tạm dừng để đảm bảo an toàn. Các hoạt động văn hoá văn nghệ trong tháng tập trung vào công tác chuẩn bị cho dịp Kỷ niệm 30 năm Ngày tái lập tỉnh Lào Cai (tuyên truyền, trang trí khánh tiết, luyện tập chương trình biểu diễn văn nghệ chào mừng...).

Lĩnh vực thể dục thể thao: các giải thi đấu thể thao cấp tỉnh như giải Bóng chuyền hơi trung - cao tuổi, giải cầu lông, bóng bàn quần vợt... tiếp tục phải tạm dừng. Công tác quản lý thể thao chuyên nghiệp và thành tích cao được chú trọng, quan tâm.

d Giải quyết việc làm, đào tạo nghề, an sinh xã hội

- Công tác giải quyết việc làm mới: trong tháng 9, giải quyết việc làm cho 2.864 lao động, trong đó có 160 lao động được vay vốn Quỹ quốc gia việc làm; Giải quyết chế độ hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 55 lao động. Lũy kế 9 tháng đầu năm: Giải quyết việc làm cho 9.384 lao động đạt 69,5% KH năm (giảm 2,2% CK 2020), trong đó có 1.845 lao động được vay vốn Quỹ quốc gia việc làm. Giải quyết chế độ hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 1.093 lao động, trong đó: hỗ trợ học nghề cho 52 lao động. Tổ chức được 31/27 phiên giao dịch việc làm (đạt 115% kế hoạch, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2020).

- Công tác Giáo dục nghề nghiệp: Trong tháng các cơ sở GDNN đã tuyển sinh và đào tạo được 1.381 người trong đó trình độ cao đẳng, trung cấp: 704 người; sơ cấp và dưới 3 tháng: 677 người. Lũy kế đến hết tháng 9/2021, các cơ sở GDNN đã tuyển sinh, đào tạo được 7.390 người/KH 10.500 người, đạt 70,3% KH (thấp hơn 7% so CK 2020).

- Công tác giảm nghèo bền vững: 9 tháng đầu năm ước số hộ nghèo toàn tỉnh giảm là: 3.928 hộ; tỷ lệ giảm 2,25% đạt 75 % KH giao. Như vậy, số hộ nghèo còn lại: 10.393 hộ, chiếm tỷ lệ 5,95% so với tổng số hộ trên địa bàn.

- Chủ động phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ảnh hưởng dịch Covid-19 nắm tình hình lao động của tỉnh đang làm việc tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn các tỉnh. Theo dõi tình hình lao động đi làm việc ngoài tỉnh trở về địa phương, phòng chống dịch Covid-19. UBND tỉnh thiết lập đường dây nóng nhằm hỗ trợ lao động đang ở các vùng dịch. Qua phản ánh của người lao động ở tại thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai... do tình hình dịch bệnh kéo dài nên cuộc sống hiện đang khó khăn, thiếu các nhu yếu phẩm thiếu yếu và mong muốn được trở về địa phương.

- Về thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19: Tính đến ngày 29/9/2021, hỗ trợ tổng số 3.947 đối tượng, kinh phí: 13.102 triệu đồng. Trong đó:

+ Thông báo giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho 1.359 đơn vị từ tháng 7 năm 2021 đến hết tháng 6 năm 2022 cho 25.712 lao động, kinh phí tạm tính 8,9 tỷ đồng. Tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất: 02 đơn vị, kinh phí giảm: 128,526 triệu đồng.

+ Chính sách hỗ trợ tiền mặt (từ nhóm 4 - 10 và nhóm 12): tổng đối tượng hỗ trợ: 2.561 người; kinh phí: 3.943 triệu đồng.

+ Chính sách cho vay trả lương và phục hồi sản xuất: Hỗ trợ vay vốn trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất kinh doanh: 03 đơn vị, 25 người lao động, kinh phí: 89,556 triệu đồng.

+ Kết quả chi trả đối với nhóm hỗ trợ tiền mặt: Tính đến ngày 29/9/2021, đã có 09/9 huyện, thị xã, thành phố; Ban Quản lý Khu kinh tế và Trung tâm Giới thiệu việc làm thực hiện chi trả cho 809 đối tượng, tổng kinh phí đã chi trả 1.320,655triệu đồng.

7. Hoạt động Khoa học - Công nghệ

Tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện 29 đề tài, dự án nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, 16 dự án chính sách khuyến khích ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ của tỉnh, 05 dự án thuộc chương trình nông thôn miền núi Trung ương ủy quyền địa phương quản lý. Trong đó: Lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn nghiên cứu tập trung thực hiện chương trình phát triển dược liệu, chương trình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, chương trình xây dựng Nông thôn mới; Lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn (văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục) và các lĩnh vực khác (công nghiệp,..) tập trung xây dựng những luận cứ khoa học cho việc thể chế hóa các chủ trương chính sách, mục tiêu và các giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội củng cố và giữ vững an ninh quốc phòng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân trên địa bàn tỉnh. Tổ chức thành công Hội nghị trực tuyến “Đổi mới cách thức lựa chọn các đề tài, dự án và đưa kết quả nghiên cứu ứng dụng khoa học vào thực tiễn trên địa bàn tỉnh”.

Hoạt động sở hữu trí tuệ, sáng kiến được tích cực triển khai thực hiện và đạt được kết quả tốt. Hiện toàn tỉnh được cấp 278 văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp. Một số nhãn hiệu sản phẩm trở thành hàng hóa được nhiều người biết đến mang sức cạnh tranh lớn trên thị trường như thịt trâu sấy Bảo Yên, Su su Sa Pa, Mận Bắc Hà, Bưởi Múc Bảo Thắng, gạo Séng cù Mường Khương, Quýt Mường Khương... đã đưa vào các siêu thị tại các thành phố lớn và mang lại giá trị kinh tế cho địa phương. Tổ chức họp Hội đồng sáng kiến cấp tỉnh đợt 1/2021 xét duyệt 55 hồ sơ sáng kiến cấp tỉnh của 87 tác giả.

Công tác quản lý công nghệ, chuyển giao công nghệ đi vào chiều sâu, bước đầu hình thành một môi trường công nghệ lành mạnh, hiệu quả; công tác thẩm định công nghệ các dự án đầu tư được quản lý chặt chẽ, giúp cho cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát được các vấn đề liên quan đến công nghệ và chuyển giao công nghệ, đảm bảo ngăn chặn ô nhiễm môi trường, giúp cảnh báo cho doanh nghiệp những rủi ro liên quan đến dự án đầu tư để có hướng đầu tư mới mang lại hiệu quả tốt hơn.

8. Tài nguyên và Môi trường

Thực hiện phê duyệt kế hoạch sử dụng đất cấp huyện năm 2021, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 cấp huyện của 9/9 huyện, thị xã, thành phố, đạt 100% KH. Phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện thời kỳ 2021 - 2030 tỉnh Lào Cai cho 06 tổ chức, đạt 100% KH; cho 52 tổ chức thuê đất, đạt 115,6% KH; thu hồi đất của 41 tổ chức, đạt 136,7% KH; chuyển mục đích sử dụng đất cho 05 tổ chức, đạt 33,3% KH. Hoàn thành Đề án phân bổ và khoanh vùng đất đai theo khu chức năng và theo loại đất đến từng đơn vị hành chính cấp huyện, vùng liên huyện tỉnh Lào Cai, xin ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Các khó khăn, vướng mắc trong công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính và công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố được tập trung giải quyết. Điều chỉnh, hoàn thiện phương án giá đất để thực hiện thu hồi đất, tái định cư và đấu giá quyền sử dụng đất cho các dự án. Tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân được đẩy mạnh.

Công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước được chú trọng, thường xuyên kiểm tra, xử lý kịp thời các vụ việc khai thác khoáng sản trái phép. 9 tháng đầu năm, đã tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản đối với 05 mỏ; cấp 02 Giấy phép khai thác khoáng sản; 02 giấy phép thăm dò khoáng sản; 03 Giấy phép khai thác sử dụng nước mặt; cấp 05 giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; gia hạn 02 giấy phép khai thác cát; phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với 02 mỏ đá và 02 công trình thủy điện. Phê duyệt báo cáo ĐTM 27 dự án, 14 đề án đóng cửa mỏ khai thác khoáng sản.

Công tác quản lý, bảo vệ môi trường được tập trung chỉ đạo kiểm tra, giám sát đối với các nhà máy sản xuất tại khu công nghiệp Tằng Loỏng; chỉ đạo xử lý kịp thời sự cố đổ xe container chở hóa chất xảy ra trên địa phận xã Xuân Giao. Duy trì hoạt động quan trắc, giám sát thường xuyên việc phát sinh lượng khí thải, nước thải, việc lắp đặt thiết bị quan trắc tự động liên tục của các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp.

9. Quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục ổn định, giữ vững chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia.

a. Quân sự - quốc phòng: Chế độ trực sẵn sàng chiến đấu được duy trì nghiêm, các lực lượng đã thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, nắm chắc tình hình địa bàn và tuyến biên giới. Công tác quản lý đường biên, mốc giới, cửa khẩu, công tác quản lý xuất nhập cảnh được tăng cường, đặc biệt trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19.

b. Công tác bảo đảm an ninh, trật tự: Tháng 9/2021, tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh ổn định. Tình hình an toàn giao thông: Tổng số vụ tai nạn giao thông 02 vụ (giảm 60% so với  tháng 8/2021, giảm 85% CK 2020), làm 1 người chết và 3 người bị thương. Lũy kế 9 tháng xảy ra 44 vụ tai nạn giao thông và va chạm giao thông đường bộ (giảm 29% so với CK), làm 21 người chết (giảm 32% so với CK) và 42 người bị thương (giảm 14% so với CK).

c. Hoạt động đối ngoại: Tăng cường tình hữu nghị với các địa phương có quan hệ truyền thống như tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), Vùng Nouvelle Aquitaine (Cộng hòa Pháp) và nghiên cứu mở rộng quan hệ đối ngoại với các địa phương, vùng lãnh thổ nước ngoài khác của Lào, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ... Tổ chức các hoạt động đối ngoại phù hợp với diễn biến dịch Covid-19.

10. Xây dựng chính quyền, cải cách hành chính

- UBND tỉnh thực hiện tinh gọn giảm 15 đơn vị, đầu mối; ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của 16 cơ quan, đơn vị; thành lập mới 01 đơn vị đặc thù; tổ chức lại 11 đơn vị sự nghiệp công nghiệp; cho phép thành lập 01 đơn vị ngoài công lập. Báo cáo Tỉnh ủy, UBND tỉnh về hiệu quả hoạt động của các mô hình thí điểm về tổ chức bộ máy (sáp nhập Sở Giao thông vận tải ‑ Xây dựng; hệ thống thú y cơ sở...). Thực hiện điều tra cơ sở hành chính trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2021.

- Thực hiện tốt công tác quản lý biên chế và quản lý vị trí việc làm, UBND tỉnh đã giao tổng số 24.970 chỉ tiêu biên chế năm 2021; so với năm 2020, tỉnh Lào Cai đã cắt giảm 719 chỉ tiêu biên chế. Thực hiện tinh giản 268 cán bộ, công chức, viên chức, lũy kế từ năm 2015 đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện tinh giản đối với 2.460 người, đạt 13,8% (vượt 3,8% so với chỉ tiêu theo Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị).

- Ban hành Chương trình chuyển đổi số tỉnh Lào Cai giai đoạn 2021 - 2025; Kế hoạch chuyển đổi số tỉnh Lào Cai năm 2021, với 5 lĩnh vực chuyển đổi chính là: (1) phát triển nền tảng cho chuyển đổi số, (2) xây dựng chính quyền số, (3) phát triển kinh tế số, (4) phát triển xã hội số, (5) chuyển đổi số một số lĩnh vực trọng điểm, phân bổ đến từng ngành, từng lĩnh vực triển khai thực hiện là 70 nhiệm vụ trọng tâm. Phát triển dịch vụ công mức 3, mức 4 đạt 100% KH. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến đạt 40% tổng số hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh, bằng 160% KH.

- Hạ tầng mạng viễn thông phủ sóng di động đến 100% trung tâm các xã, trên 98% thôn, bản. Hạ tầng mạng truyền dẫn cáp quang kết nối và cung cấp dịch vụ đến 100% trung tâm cấp huyện, cấp xã và 73% đến thôn.

- Công tác rà soát, hoàn thiện thể chế pháp luật được đẩy mạnh; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh được quan tâm. UBND tỉnh đã tổ chức thành công Hội nghị giải đáp kiến nghị, phản ánh và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

- PCI năm 2020 của Lào Cai xếp hạng 16/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với 62,25 điểm tăng 9 bậc so với năm 2019 (năm 2019 xếp thứ 25/63 tỉnh/thành phố). Chỉ số CCHC tỉnh Lào Cai năm 2020 là 85.55 điểm, xếp thứ 14/63 tỉnh, thành, tăng 01 bậc so với năm 2019. Tổ chức thành công bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND tỉnh Lào Cai, nhiệm kỳ 2021 - 2026. 

Nguồn: Theo Báo cáo số 578/BC-UBND ngày 08/10/2021
  • PS DU LỊCH VỚI XÂY DỰNG NTM
  • PS 02 năm xây dựng thôn kiểu mẫu, thôn nông thôn mới
  • Xã Lương Sơn (Bảo Yên) đạt chuẩn Nông thôn mới
  • PS Tụt tiêu chí NTM
  • PS Phát triển kinh tế xây dựng NTM
  • Cốc Lầu phát triển kinh tế xây dựng Nông thôn mới
  • PS Cán bộ lãnh đạo giúp xã nông thôn mới
  • PS Thôn kiểu mẫu, thôn nông thôn mới
1 
Thống kê truy cập
  • Đang online: 807
  • Hôm nay: 26,451
  • Trong tuần: 393,367
  • Tất cả: 63,249,915
Đăng nhập